Wednesday, August 25, 2010

Tài chánh thâu nhận, chi xuất trong dịp Đại Hội kỳ 8 NKT / BVĐCCB MACVSOG/NKT

Báo Cáo Tài Chánh Thu/Chi
Kính thưa quí Niên Trưởng ,Chiến Hữu, Hậu Duệ Nha Kỹ Thuật
Được sự ủy nhiệm C/H Nguyễn Hùng Anh T/M. BVĐCCB. MACVSOG/NKT , trân trọng kính báo cáo tài chánh thâu nhận, chi xuất trong dịp Đại Hội kỳ 8 Nhớ về Mẹ Viêt Nam tại Nam California/ không quên các C/H khổ cực ở quê nhà.

Phần Thâu Nhận :
$ 1,928.00 Tính đến ngày 08 tháng 6 năm 2010 “Email BC đã gửi đến DĐ NKT”
$ 10.00 Nhân viên CT HOA PHÁT tặng cho anh em ờ VN.(xem Email forward)
$ 100.00 HD-55 (Năm Năm) ‘theo đàm thoại, có lẽ biếu C/H Xuân Gồ $50.00’
$ 2,038.00 Tổng Cộng

Phần Hứa Hẹn : Chưa nhận Hiện Kim hoặc Check
$ 50.00 C/H Lê Tinh Anh
$ 150.00 C/H Nguyễn Bác Ái hứa biếu T.Mãi $100.00, T Quang $50.00
$ 20.00 Anh Đoàn H. Định

Phần Chi Xuất :
Theo tinh thần công bằng, bác ái đặc biệt đúng đối tượng nhu cầu cần thiết. A/E ở quê nhà quá nhiều; Ngân khoản biếu đến người nhận theo danh sách đề nghị của A/E tại quê nhà hoặc dựa theo ý muốn của các ân nhân (người biếu).


1 -- $ 500.00 gửi đến Vũ C Minh tại Saigon , 6/9/10 , phân phối biếu mỗi cá nhân $40.00 :
- $320.00 : $40.00 = 8 A/E, TB.219, do Anh M. Mẫn chuyển giao đến các anh 1-VV Ngọ, 2-PV Tường, 3-NV Thanh, 4-PN Khuê, 5-HT Hưng, 6-TH Hải, 7-LV Thanh, 8-TC Việt.
- $160.00 : 40.00 = 4, do C. Minh chuyển. 1-NV Cổn, 2-VV Viên, 3-QP LK Trọng, 4-QP N Sửu.

- $20.00 Chi phí làm lộ phí.
$ 500.00 + $7.00 (lệ phí gửi tiền ) Tổng Cộng = $507.00 xem hóa đơn attach file 1
2 -- $350.00 gửi đến anh Hà Đức Lợi taị Lâm Đồng nhờ chuyển giao (phân phối) đến :
- $ 50.00 Anh ĐV Phú Tê liệt
- $280.00 : $40.00 = 7 người :. 1-QP LV Đàm, 2-QP VVT Long, 3-QP PD Linh, 4-QP LV Ninh, 5- QP HC Ly, 6- Mẹ TS HV Hao, 7- CN ĐT Quảng (A/E nhường,xét qua Tinh Thần vì họ cần được an uỉ )
- $ 20.00 Chi phí làm lộ phí.
$ 350.00 + $5.00 ( lệ phí gửi tiền) Tổng Cộng = $355.00 xem hóa đơn attach file 2
3 -- $130.00 gửi đến Lê Văn Ty tại Nha Trang nhờ chuyển giao (phân phối) đến :
- $ 50.00 Anh Xí Tê Liệt
- $ 80.00 : $40.00 = 2 người 1- LV Ty , 2- LV Ba
$ 130.00 + $ 4.00 ( lệ phí gửi tiền) Tổng Cộng = $ 134.00 xem hóa đơn attach file 3
4 -- $ 630.00 gửi đến Lê Văn Hạnh tại Nha Thủ Đức nhờ chuyển giao (phân phối) đến :
- $ 50.00 Anh TM Hùng Tê Liệt.
- $560.00 : $40.00 = 14 người : 1 - TB LĐ Phúc Râu, 2 - TB PT Vũ, 3 – TB CX Dưỡng, 4 – Anh Thủy (T/S), 5 – VV Bất, 6 - NV Đức , 7 – D Hai, 8 – A. Sáu Đủ, 9 – Anh H Hiến, 10- anh NV Mỹ y tá, 11 – Anh Thanh (Hốc Môn), 12 – Anh Xuân Gồ, 13 - LA Cẩu , 14 – Anh H Hoa.
- $ 20.00 Chi phí làm lộ phí
$ 630,00 + $7.00 (lệ phí gửi tiền) Tổng Cộng = $ 637.00 xem hóa đơn attach file 4
5 -- $ 100.00 gửi đến Vũ Cao Minh Saigon nhờ chuyển (phân phối) :
- $ 50.00 Xuân Gồ (thiên ý của 55)
- $ 10.00 Anh HĐ Lơi phụ lộ phí
- $ 40.00 Anh LV Hạnh tạm giữ để tìm đối tượng
$ 100.00 + $2.00 (ệ phí gửi tiền) Tổng Cộng = $ 102.00 xem hóa đơn attach file 5
$507.00 + $355.00 + $134.00 + $637.00 + $102.00 == $ 1,735.00 Tổng Cộng chi xuất


Phần Tổng kết : $ 2,038.00 Thâu vào
$ 1,735.00 Chi xuất
$ 303.00 Còn lại

Số tiền còn lại sẽ dùng vào công việc phụ giúp thân nhân trùng tu hoặc dời đi (cải táng) hai ngôi mộ (1- Phù Cửu , 2 – Nguyễn văn Hoàng) hiện đang an nghỉ tại Nghĩa Trang Quân Đội Thủ Đức; Hùng Anh có cơ hội tiếp chuyện với anh Minh là thân nhân của các CH quá cố.(xin xem hình)
Xin thay mặt những quả phụ, tử sĩ và chiến hữu hiên quá khổ cực tại quê nhà trân trọng chân thành đa tạ đến quí NT,CH,HD, và thân hữu của Nha Kỹ Thuật.
Xin ơn trên ban đến quí vị với những tấm lòng vị tha, bác ái được dồi dào sức khỏe, gia đình hạnh phúc cùng với an khang và thịnh vượng.


Trân trọng đa tạ.

Nguyễn Hùng Anh
TM/BVĐCCB MACVSOG/NKT

Tuesday, August 24, 2010

Trung Sỉ Trần Văn Khôi Liên Đoàn 77 mất tích 6/1964 tại Ai Lao trong kế hoạch Leaping Lena


FORT BRAGG, N.C. (USASOC News Service, Oct. 28, 2008) - One of the most decorated units in Special Forces history was honored by the U.S. Army Special Operations Command in a ceremony here, Oct. 24.


Project Delta, Detachment B-52, 5th Special Forces Group (Airborne), the most decorated single unit in the Vietnam War, had a memorial stone dedicated in their honor and placed in the Memorial Plaza at the USASOC headquarters. Lt. Gen. Robert W. Wagner, commanding general of USASOC, hosted the ceremony.

"Today we honor you, the members of this heroic unit in Vietnam," Wagner said. "Your accomplishments were invaluable. You operated at the tip of the spear before the term was coined."

Project Delta was a covert Special Forces operation in Vietnam which began May 15, 1964. A single SF detachment, B-52, was tasked with training the Civilian Irregular Defense Group and the South Vietnamese Special Forces, known as the Luc Luong Dac Biet, in conducting long-range reconnaissance patrols in uncontrolled and enemy territory.

The operation actually started as Project Leaping Lena in early 1964, which involved selected teams from the 1st Special Forces Group (Airborne) in Okinawa, Japan, and 7th Special Forces Group (Airborne) Fort Bragg, N.C.

"Like all great inventions, Leaping Lena, and later Project Delta, was created to solve a problem," said Alva D. Greenup, a retired Air Force colonel who served as a sergeant on a Project Delta recon team from 1967-1968. "The problem was we had many more times the area than there were troops to control it."

Tactically, Special Forces in Vietnam provided a valuable intelligence source, though they did not possess the offensive capability to project any real threat to the enemy, he said. Conversely, the divisions which were transferring into Vietnam had the offensive punch, but the enemy could frequently avoid major confrontations unless it was to their advantage.

"The enemy could act freely in the uncontrolled areas," Greenup said. "Something needed to be done to fix these problems in Vietnam, and that fix was Project Delta."

Shortly after the project's inception, the 5th SFG(A) began to take a more active role using B-52 as a command and control headquarters. Officially, it was organized into 12 recon teams consisting of 11 officers and 82 enlisted men from U.S. Special Forces. However, some people remember it slightly different.

"There's formal military history, and then there's war stories," Greenup said. "The real truth about what we were is somewhere in between. For instance, one thing, in my time there I never saw 12 recon teams. There just wasn't that many people."

In addition to the American Special Forces, there were more than 1,200 South Vietnamese and ethnic Chinese soldiers divided into two CIDG companies and the 81st South Vietnamese Airborne Ranger Battalion. One CIDG company was the Nung Strike Force, a platoon-size, rapid reaction force made up of ethnic Chinese soldiers. The other company was known as the Roadrunners.

The Roadrunners were select indigenous members from various groups, Greenup said. These soldiers showed an extra measure of courage in that they would go undercover within a North Vietnamese unit to provide intelligence. Once a North Vietnamese unit had been found, the Roadrunners would be prepped and fitted with the appropriate equipment, then inserted to link up with the enemy and collect information.

"As you can imagine, this was very hazardous duty," Greenup said. "These were some extraordinary people. It was always exciting when we were doing an extraction on a Roadrunner team. We'd go in on a helicopter and start picking up six guys out of the woods wearing North Vietnamese uniforms and carrying AK-47s. There were a lot of door gunners on helicopters that would like to have cut down on them."

Delta also incorporated several other support elements into the unit, including dedicated U.S. Air Force forward air controllers. These Airmen were an invaluable asset to the unit, and their skills came in handy as Project Delta enjoyed the highest priority in air support.

"When a Delta FAC called for air support they got it, and they got it very quickly," Greenup said. "That gave the recon teams a powerful wallop, and was an enormous confidence builder."
The 281st Assault Helicopter Company provided all the lift resources for Delta, while developing special tactics and techniques to enhance the mission of the ground forces.

"Every recon guy knew the 281st were coming to get 'em, no matter how bad the circumstances," Greenup said.

This sentiment was equally shared throughout Project Delta.

"It was said among the project that when the 281st came to get a Delta team on an emergency extraction, they would either get you out, or they would all crash beside you," said Gary L. Reagan, who served as a staff sergeant on a Delta recon team. "They wouldn't quit until one or the other had happened."

Delta was also the first U.S. Army unit in Vietnam to operationally assimilate U.S. inter-service and allied personnel, such as the Australian Special Air Service and the Republic of Korea Special Forces.

Although a variety of units were represented in Project Delta, the core mission surrounded the six-man recon teams.

"This was where we got the return on the investment," Greenup said. "The idea was inexpensive, efficient and turned out to be tremendously effective."


Originally the teams were made up of six Americans, but they eventually evolved into teams of two Americans and four indigenous personnel, typically Vietnamese Special Forces. As the effectiveness of the small recon teams evolved, other units were formed, such as Projects Gamma, Omega and Sigma. The Military Assistance Command Vietnam, RECONDO School was also developed from Detachment B-52 to train personnel in forming long-range recon patrol companies within each division.

These teams were designed to strike deep into uncontrolled territory, seeking out Viet Cong units and their sources of supply. Normally sent out on five-day operations, the teams performed a wide variety of missions, including locating enemy units, intelligence gathering, bomb damage assessment, artillery and air strike coordination, hunter-killer missions, special purpose raids, and conducting harassing and deception missions.

The project's success was directly due to the caliber of Soldiers serving in the unit and the shared professional ethos of the teams.

"In the finest tradition of Special Forces, almost every man seemed to be blessed with an inquiring mind, a strong will, an adventurous nature and a readiness to lead," Reagan said. "They approached the challenge with a very simple philosophy: we'll either find a way or make a way."
Despite being the most decorated unit in Vietnam, there were very few individual awards.

"There was almost a disdain for individual awards and recognition," Reagan said. "In Delta the standard was if you were dead, missing or seriously wounded you probably would be put in for a medal. If you came back in one piece, that was its own reward, and in a couple of days you could go out and do it again."

Spread across six years, Delta was small in numbers, yet it was big in impact. The intelligence gathered provided the identities of more than 70 NVA and VC units, enabling the capture of numerous supply caches, documents and prisoners. This information was often gained in remote and largely inaccessible areas of the counter and was produced with minimal casualties.

Although, as with any conflict, Project Delta did suffer its share of casualties. The names of 29 Delta members are inscribed on the Vietnam Veteran's Memorial Wall in Washington, D.C.


Delta was officially deactivated on July 31, 1970, and the men of Detachment B-52 went their separate ways. During its six-year history, roughly 600 Soldiers served with the unit. Many of them continued on in military careers, some becoming instructors for various schools, and others returning to the Special Forces groups to pass on valuable lessons from their Project Delta experience. One Delta member wrote and published a 'tricks of the trade' manual.

"Rumor has it that this book is still used among present-day Special Forces guys," Greenup said. "We're quite proud that the legend lives on with the new guys."

Of the Delta members who stayed in the military, 20 became field-grade officers, two became general officers, including former chairmen of the joint chiefs of staff Gen. Hugh Shelton, and 59 became command sergeants major.

"Delta attracted men from all walks of life, and when their time in the project was over they moved on to contribute to their communities and country in many ways," Reagan said.

Several of the men went on to become physicians, professors and ministers. Others went into areas as varied as law enforcement, television broadcasting and nuclear power.

Most importantly to many of the Delta members, is that their legacy lives on in modern-day Special Forces.

"I'm confident that the Project Delta members had a great deal of influence regarding the development of the modern Special Forces tactics," Greenup said. "The legacy of Project Delta is partly due to the extraordinary six-year history in Vietnam, and partly due to the success of Special Forces teams carrying on the fight to our nation's enemies in Afghanistan and Iraq, and throughout other locations in the world."

For many, Project Delta set the standard for those Special Forces Soldiers who came after them.

"You set the example and established the blueprint of the things we do today, for all the future generations of Special Operations Forces," Wagner said. "You were young men with the skills, courage and trust in one another to put your life at risk, with the instincts and cunning judgment to know what to do. No bragging, no boasting, just doing. Without the technology we have today, but with the simple courage, guts and tenacity to never quit."





Nhan doc webside NKT chau moi hay tin bac Nguyen Thai Kien da ra di. Chau xin tu gioi thieu chau la Tran Ngoc Khang, hien dang o Garden Grove, CA co cha la Trung si Tran Van Khoi thuoc LLDB Lien doan 77, mat tich ben Laos thang 6/1964 trong ke hoach Leaping Lena va me chau la ban rat than tinh quen biet vo bac Kien tai VN ( nha chau cung gan nha bac Kien khu OngTa, khi con nho o VN chau cung thing thoang theo me chau toi nha bac Kien ) doc nhung dong chu bac Ginh viet ve bac Kien cung nhu gia dinh rat la dung 100%.
Nho bac Nguyen Hung Tram ma chau moi lien lac duoc voi bac Kien, chau cung thinh thoang co noi chuyen voi bac Kien qua dien thoai nhung khong hay biet la bac bi benh va hom dai hoi NKT 2010 vua qua chau co goi dien thoai qua cho bac Kien de hoi xem bac co qua du hay khong? ( vi nam ngoai 2009 bac noi se sang Cali vao khoang thang 9 ) nhung khong thay qua Cali va so phone da thay doi??, chau hoi bi shock khi hay tin bac Kien da ra di, vi truoc day tiep chuyen voi bac Kien tren dien thoai, thay bac rat vui ve va khoe manh va chau cung dang nho bac Kien hoi dum xem cac bac BK nhay bac hay Laos khi bi giam giu tai mien bac VN xem co ai biet hoac gap bo chau ( co the bi bat tai Laos??) tai cac trai tu mien bac VN hay khong?



Vai dong tu gioi thieu cua chau den voi bac, hy vong se duoc tiep chuyen voi bac nhieu hon trong email toi, rat tiec khong the tiep chuyen voi bac qua dien thoai.


Tran Ngoc Khang.







History of Project Delta - Part I


INTRODUCTION

Project Delta, formally an all Vietnamese unit, organized by the Central Intelligence Agency under the code name Leaping Lena, and trained by US Army Special Forces, was the birth place of Long Range Reconnaissance in South Vietnam. This unique unit was the forerunner of the famous Ground Studies Group (OP-35), commonly referred to by the headquarters element designation of MACV SOG, which began cross border reconnaissance, and trail interdiction in 1966. Project Delta’s reconnaissance training program ultimately led to the creation of the MACV RECONDO School; And from the Project Delta model, the other Greek letter projects, Omega, and Sigma were formed. A detailed history of this magnificent unit is under construction. Until completed, a few notes gleaned from published sources, and edited, will be posted here.

GENERAL

In August 1950 the United States sent a small military staff to Vietnam to assist the French in teaching Vietnam forces the use and maintenance of U.S. military equipment furnished under the Mutual Defense Assistance Act of 1949. Chiefly technicians, these advisers were not organized in regular military units but functioned as an extension of the U.S. diplomatic mission in Saigon to which they were assigned. By 1953 the United States had between two and three hundred military advisers in Vietnam.
Created 8 February 1962, The Military Assistance Command Vietnam (MACV) was made directly responsible for the command, control, and logistical support of the steadily increasing number of U.S. military advisers, technicians, and staff personnel who were being assigned to Vietnam. MACV along with the Vietnamese JGS would ultimately become the controlling headquarters, and assign/approve Project Delta missions. In 1965, the U.S. Military Assistance Command, Vietnam, was serving as an allied headquarters, and an extension of the U.S. diplomatic mission.
There always seems to be a difference between a unit’s capability and what it actually does. Project Delta was no exception, and like most Special Forces units in Vietnam, Delta never utilized all the talent assigned. Because of the dedicated reconnaissance mission, which it accomplished successfully and with valor, Project Delta worked below its level of expertise.
While Delta conducted missions other than reconnaissance, as illustrated by the Vung Ro Bay operation, relief of the SF Camp at Plei Me, and Tet of 68 in Saigon; The stated mission of this organization was always special reconnaissance in the four corps areas of South Vietnam.
Project Delta was a combined US Army Special Forces (USASF) augmented B Detachment, a Vietnamese Special Forces (VNSF) Training Command headquarters, and a VNSF Airborne Ranger Battalion. Project Delta usually functioned under the Operational Control (OPCON) of a division size unit, and the area of operations effectively covered between 2000 and 3000 square kilometers. The Project used a wide variety of ground and aerial reconnaissance methods, and techniques to accomplish objectives.
The US operational strength was 11 officers and 82 enlisted men. Actual strength varied, and after 1966, some excess support personnel were attached and/or assigned.
A 105 man Civilian Irregular Defense Group (CIDG) Nung Security Company furnished security for the Delta force. This company also had a Bomb Damage Assessment (BDA) platoon.
The Vietnamese Special Forces (LLDB) operational strength was 20 officers and 78 enlisted men, and ultimately became a reflection of Detachment B-52. In addition, there was a 123 man CIDG Roadrunner Company; a reconnaissance platoon; and the 81st (Formally 91st) Airborne Ranger Battalion with 43 officers and 763 enlisted men. The 81st Airborne Ranger Battalion was Project Delta's reaction force. The battalion had six companies with four deploying on Delta missions, and two remaining in garrison under operational control of the VNSF Commanding General (CG).
The Roadrunner Reconnaissance Company was commanded by a VNSF Lieutenant, and advised by two USASF NCO's. The mission of this company was to conduct clandestine reconnaissance and surveillance missions. The method of operation was to infiltrate enemy occupied areas, and travel the roads, trails, and paths, dressed as members of the opposition.
The BDA Platoon had 30 CIDG and two USASF NCO's. The platoon's mission was to provide bomb damage assessment, and analysis of artillery, and air strikes. The platoon had the additional mission of acting as Project Delta's first reaction force.
A VNSF officer with a senior USASF NCO advisor commanded the Reconnaissance Platoon. The platoon had 12 recon teams consisting of 48 USASF advisors and 72 VNSF personnel. Each team had spaces for six VNSF, and four USASF personnel. In line with the Vietnamization goals, two teams had all VNSF members. The mission of these teams was to conduct reconnaissance, and surveillance missions in enemy controlled areas.
Requests for use of Project Delta forces were submitted jointly by the Vietnamese Corps Commanders to the Joint Central Staff, and by the US Tactical Zone Commander to MACV. Requests were studied at both higher headquarters, and the Corps tactical zone having the most need, received Project Delta, usually, for a 30-day period. The US headquarters within the tactical zone, which was assigned operational control of Project Delta, furnished support as required. The staff of Project Delta coordinated with their counterparts in the OPCON headquarters. And the area of operations, approximately 2500 square kilometers, was assigned for the exclusive use of Project Delta.
A Forward Operational Base (FOB) was selected in the vicinity of an airstrip capable of supporting C-130 aircraft. When the FOB could not be located on this type of strip, a separate mission support site (MSS) was established. Project Delta forces were transported to the FOB or MSS by C-130's. The FOB was usually set up and fortified during a five-day period.
On becoming operational, Project Delta used any and/or all of the following capabilities to fulfill its mission: Long range and covert reconnaissance in enemy controlled areas; Plan and direct air strikes on otherwise inaccessible targets; Make bomb damage assessments in enemy controlled areas; Use reconnaissance-in-force missions against concealed enemy positions; Execute hunter-killer missions at night using airborne sniper scopes and star light scopes; Recover allied prisoners of war; Capture enemy personnel for intelligence exploitation; Rescue downed aircraft crews; Employ wire tap procedures on enemy communication lines; Mine transportation routes; Mislead enemy counterintelligence by deceptive missions, mock ordnance, and dummy infiltrations; Use harassing gas and smoke to channel enemy personnel into kill areas; Conduct photo reconnaissance; Assist in psychological operations; and conduct airborne personnel detector missions.
While not written in stone, Insertion of Delta Teams was usually made at twilight using four UH1D slicks and two gun ships. These Aircraft flew to a LZ in a line formation in the following order: one Command and Control (C&C) slick, one insertion slick, two recovery slicks, and two gun ships. The pilot of the C & C aircraft controlled the air operation. He directed the pilot of the infiltration ship to the Landing Zone (LZ); the infiltration party departed the ship by ladder, landing, or rappelling. During the insertion, the gun ships remained on station to keep the LZ and immediate vicinity under constant surveillance. The recovery ships orbited with the C & C ship at a higher altitude, and were prepared to extract personnel in case of emergency, which usually meant downed aircraft, wounded personnel or excessive enemy activity in and around the LZ. Assigned Forward Air Controllers (FAC) would fly in a wide orbit and were prepared to call for air strikes. Upon completion of the insertion, the entire formation would make at least one pass at another LZ for deception purposes.
Reconnaissance teams practiced maximum deception techniques after insertion. Whispered radio status reports were passed through the Airborne Radio Relay to the FOB three times a day. Enemy sightings or other intelligence were transmitted immediately. Roadrunner teams attempted to deceive local enemy forces with the similarity of uniforms, weapons, and cover stories.
Extraction procedures were essentially the same as insertions, and level of difficulty depended upon the weather and enemy situation. FAC's went first to the area and located the team. The C&C ship made positive identification using pre-designated codes, and the recovery operation paralleled the insertion procedures.
With the exception of pre-planned Ranger type missions, deployment of Project Delta’s reaction forces depended upon the extent of enemy contact. The immediate reaction element (BDA Platoon) was the first force committed. Next was the intermediate reaction force (a company of the 81st Airborne Ranger Battalion). The remaining companies, as required by the situation, followed this. Following the commitment of all Delta Forces, the OPCON headquarters deployed infantry battalions to exploit the contact.

EARLY HISTORY - The Beginning
In early 1964, US Army Special Forces-Vietnam was tasked to provide training, and assistance in the development of Vietnamese Reconnaissance Teams directed at targets in Laos. Under LTC George A. Viney, a hand picked team of US Special Forces personnel, led by CPT William J. Richardson, Jr, began training indigenous personnel from several different ethnic groups, to include Vietnamese Special Forces. Trained in reconnaissance methods and techniques, which included infiltration by parachute into the trees, these individuals were readied for insertion into Laos. This effort was code-named "Leaping Lena."
"Leaping Lena" was the name of the operation. PROJECT DELTA became the name of the organization. Neither name had any particular antecedents. There were apocryphal stories about DELTA being named for the triangular shape of the original compound. But there were certainly no prior Projects named "Alpha" or "Beta", or "Able" and "Baker." This may have been one of the earliest uses of the term "Project," although it appears some intelligence operations were already being identified as "Projects." When the other Greek letter detachments were formed, they took their names from the prior existence of DELTA, and not because there was an overall naming scheme.
After the initial training exercises, which were conducted with eight man teams accompanied by one American, President Lyndon Johnson authorized covert cross border operations, but prohibited participation by U.S. advisors.

CPT William J. Richardson, Jr.
CPT Richardson and famous VNAF H-34 pilot "Cowboy" at Khe Sanh

Between 24 June and 1 July 1964, five teams, laden with combat equipment, and wearing smoke jumper gear, parachuted into the jungle of Laos along Route 9 east of Tchepone. Each team was composed of eight Vietnamese Special Forces, and each team would operate as a separate entity.
The Drop Zone for Day Training Jump. All those trees look cushiony, but appearances can be deceiving. They were 90-100 feet tall. One VN was killed rappeling down from the trees.
Two teams were inserted north of Highway 9 astride Route 92; and three south in the direction of Muong Nong. This area was selected primarily because of the jungle canopy, which had to be horizontal to make a good tree jump, and insure hang up in the trees for maximum survivability. However, the insertion was less than good. One man was killed repelling from the jungle canopy, and several others were injured.
Without American leadership and control, Leaping Lena had been doomed to failure. Despite specific warnings against going into villages, most of the agents went into the villages in search of food, and were captured or killed. Only five survivors were able to evade capture, and exfiltrate the area.
The five who did get out reported encountering company size elements
of VC, and every bridge on Route 9 guarded by soldiers, which
appeared to be Pathet Lao. Each team had a specific mission, and was to collect information on enemy activity, to include movement of trucks, artillery, and heavy equipment. They were to look for any signs
of troop movements of intact units such as companies or battalions.
Although Leaping Lena was classified a failure, The intelligence developed or generated from the five team members who returned, was much more than MACV had prior to that time. It was determined the area was alive with enemy ground forces, and many were equipped with NVA uniforms. Every culvert on every road, and every bridge, had a minimum of two enemy personnel guarding it. Additional roads, not detectable by air, were discovered, and the movement of convoys noted. The teams found these through eyeball contact. Units as large as battalion-size were observed, including one that was in the act of crossing into Vietnam west of Khe Sanh. This sighting was confirmed by a helicopter crew sent out to rendezvous with one of the teams.
Team members also reported approximately 30 sampans being used simultaneously to cross company size units. One of the team leaders, after he was recovered, said, "I attempted to move through the area in the vicinity of where the battalion was spotted two days prior, and In trying to follow some of the side roads, I continually had to take evasive action around guards posted at every bridge and every culvert." This same information was repeated by several different members of other teams. There was high density enemy activity throughout the area astride Highway 9 and west of the international boundary.
On 12 June 1964, SF Detachments B1/110 and A1/111 proceeded from 1st Special Forces Group-Okinawa to Vietnam for a 180 day Temporary duty assignment. MAJ Frederick Patton and MSG Robert Mattox had arrived a few days earlier as an advance party. These detachments were assigned to Project Delta, and their first order of business was to participate in a search and recovery operation for the survivors of the Leaping Lena operation.
MSG Larry Schell, Unk, and SGM Art Senkewich aboard Leaping Lena search chopper.
SGM Paul Payne with locals being paid to walk the border in search for Leaping Lena personnel.
Project Delta's Tent City
Project Delta’s Tent City had already been built when the TDY teams arrived, and this is where they stayed. All the B Detachment and half the A detachment lived in the Tent City. The other half of the A-Team went to Dong Ba Thin, where three Ranger companies were stationed. Half the Nung Ranger company pulled security around the Project Delta camp. The other half moved to Nha Trang and joined the training cycle underway with VN Special Forces.
SF gave the LLDB classes in patrolling, and conducted daylight tree-landing exercises in the jungle. 1LT Don Snider's "initial impressions of these Vietnamese, who would be Special Forces, was not favorable. On 19 June, after five days, 14 of the 18 solders quit. They were subsequently shipped to Dong Ba Thin by their LLDB superiors. That effectively ended that cycle, but teams trained earlier were already in the pipeline for insertion by the LLDB.
"While waiting for new trainees", Snider said, "We prepared new POI for both one-week, and two-week cycles. Essentially, the subjects were weapons qualification; basic airborne techniques (drop zone close to Nha Trang and relatively secure); advanced airborne insertion techniques using four to eight man recon teams, and making low altitude jumps with no reserves; use of smoke jumper suit; repelling
Lt. Don Snider
From double jungle canopy with Australian tie-offs; disposing of equipment, and assembly; reconnaissance techniques; trail watching/reporting activities; and egress to border SF camp for eventual extraction.
Smoke Jump Suit
The training exercise consisted of one local jump at Nha Trang, then a week in the Highlands practicing a night team insertion (low level jump), and a three to five day patrol in the border area. One or two Americans from our half team participated in these exercise. After the field training, in which teams sometimes made enemy contact, we would turn the teams over to the LLDB for insertion across the fence into laos, usually in the tri boarder area."
LT Don Snider continued: "The next cycle started on 29 June. On 2 July, we conducted a night jump in the local Nha Trang area, followed by more training in the compound. Then on 17 July, we made our first tree jump near Bon Sar Pa, and spent three day running DZ for the LLDB teams."
During such Field Training Exercises (FTX) away from Nha Trang, it was not uncommon for 25% of the LLDB soldiers to simply
disappear into the jungle with the equipment we had given them. Desertion rates were high, and given the unreliable air support from the Vietnamese Air Force, airborne operations were always problematic.
We returned to Nha Trang, for the final stage of training, on the 20th and 21st of July. But an altercation in the compound caused the SF Team to 'shake-down' the camp. Weapons were then issued only to those LLDB departing on exercises."
Jump Training Towers
SSG Stanley Dahl recalls the LLDB as being really sorry. "On training missions they didn't want to pull their load. On day training jumps, they didn't want to carry their equipment out of the jungle. Sometime in late July or early August, we started doing night jumps in gear. One night the LLDB refused to jump and took off their gear. One of them pointed a .45 automatic at the jumpmaster. It was hard to hold your temper."
"I participated in two night combat jumps into the jungle with tree-landing suits and combat gear. Jim Coates, Charles Battistoni, myself and six LLDB ran recon patrols, moving only at night. The distance from point A to B to C was so great we couldn't accomplish our missions, and had to evade VC tracking patrols which following us. On both patrols we had to call for evacuation because of the LLDB's lack of security."
SSG Dahl also remembers the mutiny. "Sometime in August 1964 at the Project Delta camp, we had a mutiny. The LLDB were locked in Isolation preparing for a mission, but decided they wanted to leave the compound and to go to Nha Trang.
July 1964, Coming off Patrol L to R: SGT James Coates, SFC Stanley Dahl, unk LLDB, SP4 Charles Battistoni, unk LLDB
We refused to let them out, and they pulled their weapons on us. We grabbed our weapons, and got behind sandbags. The LLDB did the same.
The Nung guards, outside the compound, pointed their weapons at the LLDB, and we had a mexican stand-off. The gate guard called for reinforcements which arrived about an hour later, and everyone stood down. One LLDB captain, waving a Thompson sub-machine gun, was disarmed, and arrested by the SF Team. The following day, an American SF officer with the LLDB commander, COL Lam Son, came to the camp, and escorted the LLDB out of the compound. One of the LLDB involved in the mutiny, walked out the gate, and slapped SFC Luttrell in the face as he left. Luttrell bit his tongue, but didn’t shoot him.
During this period, MAJ Mitchell and MAJ Patton, CO and XO of B-110, had been investigating the misappropriation of SF assets by this same commander, COL Lam Son (a nom de guerre for Pham Dinh Thu). It was also reported that he was under siege by the widows of the men lost in Leaping Lena, and was later fired because of that failure."
Snider again: "We resumed training in the Highlands on 23 July. MSG Paul Johnson, one other American, and I accompanied a six man LLDB team on a patrol to the Cambodian border. As with most such insertions, we were followed/tracked by VC for most of three days. We were eventually compromised, and withdrew to the USASF camp west of Buon Sar Pas on 26 July. When we returned to Nha Trang on the 27th, we learned a decision had been made to train no more LLDB. After that, elements of an ARVN airborne-ranger company started to arrive in the compound for the next cycle."
Snider learned on 5 August, that the original members of A/111 would leave Delta, perhaps to be reunited at Dong Ba Tien. But on 9 August, he was told his half-team would be broken up and used as individual replacements. He got orders for IV Corp, eventually joining the A Team in Don Phuc as XO. Lt Snider completed the remainder of his tour with the CIDG forces there.
After the mutiny and the investigation, the TDY personnel were scattered among other SF detachments and MAJ Mitchell was sent back to Okinawa. CPT Richardson re-assumed charge of Project DELTA.
During the Montagnard Revolt of 1964, DELTA personnel participated in an ad hoc contingent of volunteers, called Operation SNATCH. They were sent out to Ban Me Thuot on September 26th to provide the muscle for a show of force at Buon Sa Par the following day. The troop carrying helicopters landed about five hundred meters from the camp and negotiators, led by BG William E DePuy (MACV J-3), arranged the release of the LLDB hostages. The Task Force then returned to Nha Trang. The Rangers at Dong Ba Thin had been alerted for this operation, but were not deployed, possibly because BG DePuy deemed it inadvisable to use anything but U.S. personnel.
Other Reported Operations in 1964, included a POW rescue effort west of Tay Ninh, near the Black Virgin Mountain (Nui Ba Den). However, no allied POW's were found.
On 9 December 1964, Delta conducted an operation on the Ninh Hoa peninsula. This otherwise successful operation was marred by the unwieldy process required to commit the ARVN Rangers. And caused COL Spears, in January of 1965, to initiate a request to the VNSFHC which resulted in field commanders receiving authority to commit the 91st ARVN Ranger Battalion.
Ninh Hoa:
The operation started on 9 December 1964, on the peninsula extending east and south from Ninh Hoa, a village north of Nha Trang. Three teams were committed, but because of rain and fog, insertion did not occur until 0630. Two of the teams were detected in insertion but the third was successful and brought back a prisoner and much information.
Team #1 made contact with an estimated enemy company at 1558 on 10 December. Heavy fire drove off the exfiltration helicopter, and two men became separated from the team. All personnel managed to out maneuvered the VC while gathering information on the enemy’s disposition and activity. The missing men re-joined the team after the brief contact, and exfiltration were completed. The LZ was on the side of the mountain with jagged rocks and steep terrain, and the helicopter had to hover on one wheel while the crew members pulled in the team; The crew chief, meanwhile, dispatched one VC sniper.
Team #2, had descended into the valley, and made it’s way to an exfiltration point. As the helicopter prepared to land, a VC ambush was sprung, and the aircraft were driven off. The team took cover behind a dike, leaving three of its members pinned down on the LZ; Assuming the three men on the LZ were dead the team withdrew. A returning chopper forced the VC to pause long enough to allow the three men to crawl to cover.
This action occurred on 11 December, but the team could not be extracted until the 14th. While darkness and torrential rain on the 11th covered all noise of movement, the three separated team members crawled until nearly daylight, and found they had penetrated the outer perimeter of an enemy base camp. Throughout the day, the three hid in the undergrowth. At one point, a VC search party stopped for a food break, and remained within arm’s reach of the team for thirty minutes. That night, the three crawled out of the enemy camp, and made radio contact with a helicopter. They were directed to the only available LZ - 50 meters on the far side of a village held by 2 reinforced VC platoons. And at 0500, all three, with the 2 Americans supporting the wounded VNSF, stood up and walked right through the village; They counted on darkness and rain to fool the VC into mistaking them for friendly forces, and the ruse succeeded; they even waved to a guard who was smoking a cigarette!
Gaining the far edge of the village, they hid in a clump of bushes until 1002 hours, 14 December, when a break in the weather allowed a helicopter to land. The enemy opened fire, but the extraction was successfully completed.
The teams had called in airstrikes resulting in 16 VC killed, 17 wounded, and 4 captured; Follow-up air strikes killed 39 additional VC, 2 complete squads were captured, and 22 tons of rice were destroyed. The rest of the enemy was forced back into the hills and a village of 58 families liberated from VC domination. Friendly casualties were only 1 VNSF wounded. The operation was a success; 30 personnel had disrupted an entire VC network and routed a reinforced company.
Also In December of 1964, a 5th SFG(A) PCS detachment under MAJ Art Strange took over PROJECT DELTA. Another PCS “A” Detachment, under CPT Thomas Pusser, later killed at Plei Me, and a TDY team from Okinawa, under CPT Paul Smith, shared the Ranger and Recon responsibilities.
Up to this point, Special Forces Teams, TDY from the 1st and 7th SFG, had formed Project Delta, and managed Leaping Lena. This first year was essentially reconnaissance and ranger training, with actual combat practical exercises.

Friday, August 20, 2010

Thiếu Úy Hoàng Hiến, covey rider thuộc Doàn 1/SLL.


Thời gian trước có tin Th/U Hoàng Hiến làm việc (để lo cho cuộc sống) tại Nông Trường Xà Bang
Cuộc sống khá vất vả, bẩn chật. Nay, không biết gia đình anh thế nào, ở đâu?
Quí vị và anh em nào biết được tin (Th.U Hiến) hiện giờ, xin vui lòng cho biết. Nếu chưa? Xin anh em nào (ở quê nhà) có thể tìm giúp để có thể biết tin một chiến hữu ít được nhắc tới.


Thân kính,


Dẩn San Jose, California

Monday, August 16, 2010

Nhắn Tin Chị Trần Ngọc Anh chị của Trung Úy BĐQ Trần Văn Giám

Chúng tôi là những anh em bạn tù của tr/uý BĐQ TRẦN VĂN GIÁM, người đã trốn trại Gia Trung và bị bắn chết cách đây 33 năm về trước, nay thân nhân cùa người bạn tù cùng hy sinh với anh Giám ngày ấy là ch/uý NGUYỄN VĂN HÒA, THUỘC LIÊN ĐOÀN 81 BCND, đã đưa di cốt của hai tữ sĩ về mai táng tại Húê, ngày 12 tháng 8 năm 2010 vừa qua.
Nay chúng tôi tìm thân nhân anh Giám đễ thông báo tin này để gia đình cúng giỗ , phần mộ chúng tôi đã hoàn tất chu đáo, nghe tin chi TRẦN NGỌC ANH đang ở đâu đó vùng OC, nếu chị nhận được tin này làm ơn gọi cho tôi số 510-663-9948 , tôi là Thuận, anh ruột của Hòa, 


CHÚNG TÔI CHỈ MUỐN GẶP CHỊ ĐỂ BÁO TIN, 

trong tình anh em đồng đội, mong tin chị và gia đình
Thuận .

email:  oakdrisch@yahoo.com

Saturday, August 14, 2010

NGUYỄN TÂN XUÂN, Cấp bậc Trung sĩ, thuộc Đoàn 1 LL, Anh Xuân vẫn còn nhớ các anh ở Đoàn 1 như anh Na, anh Bá, anh Dẫn, anh Thuần.

Hôm nay em có nhận được ĐT của anh Xuân (trước ở Đoàn 1/LL)
Anh ấy cho biết trước đây vài hôm anh Huỳnh Hoa có tìm đến thăm và
nhắn là anh Phạm Hòa muốn biết địa chỉ của anh Xuân.
Anh Xuân gọi ĐT nói chuyện với em mà cứ khóc hoài, em phải tắt máy gọi
lại 3 lần nữa (lần nào cũng khóc) mới nói chuyện rõ ràng được.
Em có gọi ĐT cho Cường nhóc để hỏi về anh Xuân, Cường xác nhận là đúng.


Anh Xuân tên là:
NGUYỄN TÂN XUÂN, Sinh năm 1953
Cấp bậc Trung sĩ, thuộc Đoàn 1 LL,
Bị thương cụt 1 bàn chân trái (cao hơn mắt cá chân) năm 1972.
Hiện nay bị tai biến mạch máu não, tê liệt nữa người, đang tập đi lại.
Địa chỉ hiện nay: Ở trong khu công nghiệp Sóng thần, Huyện Dĩ An, tỉnh
Bình Dương.

Anh Xuân vẫn còn nhớ các anh ở Đoàn 1 như anh Na, anh Bá, anh Dẫn, anh Thuần.
Nếu các anh có dịp thì gọi ĐT nói chuyện với anh Xuân nhé.
Vài hàng cho anh biết vậy
Em CD1/SLL

E-mail tu gia dinh anh Xuan 
Kính Gửi Ông Phạm Văn Hòa !
Tôi tên là :Lê Thị Kim Ngân
Hôm nay tôi viết mail này kính gửi đến ông những thông tin về cậu tôi (Nguyễn Tân Xuân) và rất mong nhận được hồi âm sớm :
 Trung Sĩ:Nguyễn Tân Xuân
  Số Quân:73/510103
Đại Đội Thám Sát Toán Hải Ngư
SLL:NKT.TTM.KBC3998
Huyện Dĩ An_Tỉnh Bình Dương
Anh Huỳnh Hòa Giới Thiệu
Xin Chân Thành Cảm Ơn ...


E-mail 8/16/2010
 
Kinh gui Ong,
 
Cam on vi Ong da hoi am. Toi chua bao gio nhan duoc su yem tro cua hoi HO hay bat ky su tro giup nao. Kinh nho Ong giup do moi viec vi hien nay toi rat don chiec, va lai toi dang bi tai bien mach mau nao ( liet 1 tay 1 chan ) nen chuyen di dung va moi sinh hoat cua toi deu rat kho khan.
Xin thanh that cam on va mong duoc su giup do cua Ong.
 
Nguyen Tan Xuan

Wednesday, August 11, 2010

Tâm Tình Nha Kỹ Thuật Nguyễn Văn Thuận Đoàn Công Tác 11

nh Trung
Anh đã chuyển một bài viết thật hay về tên ma đầu này, em tôi, một chiến hữu 81BCNH, là một nạn nhân nhưng không thể là nhân chứng vì đã bị bắn chết trên vùng tam biên trong một chuyến vượt ngục đẫm mảu ở trại tù Gia Trung, hôm nay sau 33 năm, tôi đã hoàn tất việc đưa xác nó và một chiến hữu cùng hy sinh với nó hôm đó về chôn cất ở Huế, khi tôi viết những dòng chữ này thì xe chở hai quan tài, em tôi và Giám Hải Quân, đang trên đường ra Huế, ai trong diển đàn này từng ở trại tù Gia Trung xin truy tìm gia đình Giám hộ tôi, trong thời gian chờ đợi, gia đình tôi sẽ coi Giám như
người nhà đễ lo chuyện cúng giỗ hằng năm cùng với em tôi.
Tôj cũng có ý nhờ anh Phạm Hòa  thông báo bên các hội đoàn Hải Quân, Các Hội Đoàn Tù Cải Tạo giùm tôi, không ai có thể làm chuyện này tốt hơn, anh có cả một website thông minh và rỏ ràng, xin thay mặt anh Giám Hải Quân mà cám ơn anh, nhớ làm sớm nghe bạn , chuyện hốt cốt tù cải tạo nhiều cam go và ly kỳ, mình sẽ có bài viết riêng cho bạn.
Xin cám ơn Thịnh Rô Bô đã tìm tò̀i và phác hiện bài viết của anh Nguyễn Hoàng Sơn trong vụ này, đó là thông tin quí giá giúp tôi xác định được trại tù, và tôi cũng đã tìm ra anh Nguyễn Hoàng Sơn.
Xin cám ơn Trung Úy Không Quân Trương nguyên Thuận đả chỉ cho tôi hai ngoại cảm ngoài Đà Nẳng, các bạn vào trang lưu trữ của website RFA trang lưu trữ ngày 08/01/2010 sẽ thấy bài này
Cuối cùng, không ai sống mãi với lòng thù hận, điều này có đ́úng với người Cọng Sản không, tên ma đầu liệu có hiểu điều này không??????????????????
Các bạn, xin hảy coi bài viết này là lời nhắn đến gia đình anh Giám và anh Nguyễn Mạnh Hùng Hải Quân, người còn sống sau cuộc vượt ngục ở trại tù Gia trung, lời nhắn khẩn thiết, tiếp tay truy tìm và nhắn cùng tôi.


Vũ Thành An làm ăng ten trong trại tù Cộng Sản.
 

Bài viết của Trần Trung Chính
Niên khóa 1966-1967, trong giờ "Thème" của môn Pháp văn, giáo sư Nguyễn Huy Đương (nhạc phụ của nhà giáo Nguyễn Kim Dũng - được nhiều người biết với danh hiệu Thế Uyên - người sớm giác ngộ "đạo đức cách mạng cộng sản" đã viết bài phản tỉnh từ trại Katum vào Noel 1975 trên báo Đứng Dậy của linh mục nằm vùng Nguyễn ngọc Lan) đã cho dịch câu nói của cô Mai trong tác phẩm "Nửa Chừng Xuân" của Khái Hưng, đoạn nói về bà Án, mẹ của Lộc - đang dụ dỗ cô Mai về làm vợ lẽ cho Lộc vì bà Án cần đứa cháu trai. Cô Mai từ chối và trả lời như sau : " Bẩm thưa bà, nhà tôi không có mả đi lấy lẽ."

Toàn thể lớp đệ nhị B2 của tôi không một ai dịch nổi nhóm từ "mả đi lấy lẽ". Giáo sư Nguyễn Huy Đương gợi ý nên chuyển câu nói ấy qua một dạng khác thì người ngoại quốc (Âu Mỹ) mới có thể hiểu được :

" Bẩm thưa bà, truyền thống giáo dục của dòng họ tôi không có dạy tôi đi làm vợ lẽ người ta !!"

Năm 1976, nghĩa là 10 năm sau, oái oăm thay khi thiếu tá Trần Văn Thảo đưa cho tôi tờ Đứng Dậy đọc bài phản tỉnh của Thế Uyên, tôi lại nhớ đến câu thoát dịch của giáo sư Nguyễn Huy Đương và tự hỏi sao Thế Uyên lại không trả lời được như cô Mai (ghi nhận là Thế Uyên uyên bác hơn cô Mai rất nhiều), đáng lẽ Thế Uyên phải nói : " Thưa ông cán bộ, (có thể là Thế Lữ hay trưởng trại cải tạo), nhà tôi không có mả giác ngộ chính quyền cách mạng, nhất là hiện nay tôi không có tự do."

Tiếc thay Thế Uyên không có cái dũng cảm như cô Mai nên bài phản tỉnh ra đời. Kết quả hiện thực là Thế Uyên được rời trại cải tạo rất sớm. Trong quá trình hành tội những kẻ thua trận dưới dạng từ hoa mỹ "học tập cải tạo tốt" , người cộng sản luôn luôn đòi hỏi "phạm nhân" phải "giác ngộ chính sách và đường lối". Rất nhiều người hiểu sai chữ "giác ngộ" của cộng sản : "giác ngộ" của cộng sản dùng không giống một chút nào với "giác ngộ" trong Phật giáo. Thước đo của sự giác ngộ là tố cáo một cách thành khẩn những tội lỗi hay ý nghĩ của những người xung quanh mình để "dâng" lên đảng cộng sản và chính quyền của nhân dân ! Giá trị của thước đo càng lớn thì "cải tạo viên" mới được về với gia đình (tôi không dùng "được trả lại tự do" ). Thế Uyên được trả về sớm quá nên tôi không rõ mức độ " giác ngộ" của Thế Uyên ra thế nào, có lẽ không nhỏ.

Nhưng tôi ngạc nhiên biết bao khi tháng 6/1984, trở lại Sài Gòn với gia đình, tôi vẫn chưa thấy ông cựu Trưởng Ty Dân Vận Chiêu Hồi tỉnh Gia Định là nhạc sĩ Vũ Thành An được trả về với gia đình. Mãi đến năm 1987, trước khi tôi vượt biên vài tháng, tôi mới được tin Vũ Thành An được rời trại tù và tạm cư ở cư xá Thanh Đa. Nhắc đến Vũ Thành An, nếu lấy 100 diểm làm thước đo cho cuộc thi mức độ "giác ngộ" thì Vũ Thành An đạt 100/100 với lời khen tặng của Ban Giám Khảo !!

Người bạn của tôi, cựu đại úy Trần Văn Chính, nguyên khóa 4 Biên Tập Viên Cảnh Sát, ở tù chung với tôi trong Nam, nhưng khi bị chuyển ra Bắc lại ở chung trại với Vũ Thành An, đã nói rằng Vũ Thành An là antenna nguy hiểm nhất, đã từng hại rất nhiều chiến sĩ của ta. Có người lại bảo Vũ Thành An đâm sau lưng chiến sĩ, nhưng anh Trần Văn Chính lại bảo rằng "hắn đâm đàng trước nhiều hơn đâm sau lưng. Tôi thì góp ý như sau :" Bố mẹ đặt tên là Vũ Thành An, nhưng sau mười mấy năm tù với thành tích ác ôn, ta phải gọi là Vũ Thành An-ten-na mới đúng".. Vậy từ đây trở về sau, tên được gọi là Vũ Thành An và tên gọi được là Vũ Thành An-ten-na !!

Con người hiện hữu luôn luôn bao hàm hai phần : tiên thiên và hậu thiên. Tiên thiên là phần trời cho, hậu thiên là phần ảnh hưởng bởi môi trường sinh sống. Vũ Thành An có phần tiên thiên khá tốt : mắt sáng, nguòi cao (cỡ 1.85m), tài hoa (có khoa bảng và làm nhạc có hồn), nhưng có lẽ phần hậu thiên không khá mấy, vì không có một ông thầy nào cũng như không có một chương trình giáo dục nào của người quốc gia dạy con người đi làm antenna hại người thân, bạn bè và chiến hữu cả (cộng sản thì có : đó là chính sách căn bản cho sự đấu tranh giai cấp). Vậy thì chỉ còn giáo dục gia đình là có ảnh hưởng, chả lẽ "dòng họ của Vũ Thành An có mả đi làm antenna ?" Xin Vũ Thành An minh xác về điểm nghi vấn này của tôi.

Tự điển Webster định nghĩa về antenna như sau :

a movable segment organ of sensation on head of insects, myriapods and crustaceans (tạm dịch : cơ quan về cảm giác có nhiều đoạn khúc có thể chuyển động được, ở trên đầu các loài côn trùng, loài đa túc và loài giáp xác). a usual metalic device (as a rod or wire) for radiating or receiving radio waves (tạm dịch : thiết bị bằng kim loại thường dùng cho các làn sóng bức xạ hay nhận làn sóng vô tuyến - có thể là một thanh sắt hay bằng dây).

Đại đa số anh em tù nhân chính trị và nhân dân miền Nam hiểu về antenna qua định nghĩa thứ hai, ít ai để ý đến định nghĩa thứ nhất, ngoại trừ những chuyên viên nông nghiệp và các giáo sư dạy môn vạn vật. Thật vậy hầu hết các loài côn trùng đều có antenna mà chúng ta thường gọi là "râu" như các loài bướm, cào cào, châu chấu, dán, dế...Các loài đa túc như kiến, cuốn chiếu, rết... cũng có antenna. Loài giáp xác như tôm, cua... cũng có antenna. Chúng dùng antenna để truyền thông cho nhau, trong khi thiết bị bằng kim loại ỏ định nghĩa thứ hai hoặc chỉ là phát sóng hoặc chỉ nhận sóng chứ không vừa phát vừa nhận như antenna của sinh vật.

Bọn Việt Cộng ( Việt Nam Cộng Sản) - dù là kẻ chiến thắng - vẫn bị thua trận và nhân dân miền Nam coi là "loài sâu bọ lên làm người", sự miệt thị này không phải xuất phát từ sự ghen tức mà chính là sự quá ngu dốt của tập đoàn lãnh đạo CSVN từ thượng tầng trung ương đến hạ tầng cơ sở. Phạm vi bài viết này không phải chỗ để liệt kê các ngu dốt ấy, mà nếu liệt kê thì chắc phải dùng đến một quyền dầy cỡ tự điển mới đủ. Điều tôi muốn nói ở đây là chỉ có bọn "sâu bọ lên làm người" mới truyền thông được với bọn "côn trùng học lên làm người" như Vũ Thành An-ten-na, Cung Củ Đậu, Nguyễn Minh Đăng...

Chính miệng Vũ Thành An đã phát biểu để minh chứng cho nhận xét của tôi. Tôi không hề bầy đặt và gán cho thân phận của Vũ Thành An là "côn trùng học làm người". Chúng ta hãy đọc lại đoạn hồi ký sau đây của đại úy Trần Văn Chính (tôi cũng liệt kê vào đây một số nhân chứng như cựu dân biểu Trương Vị Trí, cựu phó tỉnh trưởng Trần Huỳnh Thanh, cựu Trung Tá Nguyễn Lô - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 nhảy dù, cựu thiếu tá Văn Hiệp Vân - trưởng F Cần Thơ, cựu thiếu tá Trần Văn Hên - khóa 19 trường Võ Bị QGVN, cựu thiếu tá Nguyễn Văn Tăng - trưởng F Vũng Tàu...) :

[Trích đoạn]..." Đêm 30 tháng 12 năm 1980, trong không khí lạnh lẽo của núi rừng tỉnh Bắc Thái, trại tù Phú Sơn tổ chức đón giao thừa. Sân khấu được dựng trong sân trại tù. Phía dưới sân khấu khoảng trên 2,000 tù nhân thuộc thành phần quân, cán, chính của VNCH ngồi lặng lẽ trên sàn đất. Phía sau đó, xa hơn một chút, 22 vị linh mục bị cô lập ngồi co ro vì lạnh. Sau chót là những hàng ghế dành cho bọn công an coi tù đang chễm chệ (chú thích của tôi : chắc anh Trần Văn Chính bị mất kính cận thị nên không trông rõ, chứ bọn công an Việt Cộng ít kẻ biết ngồi chễm chệ, đa số hay ngồi kiểu nước lụt - nghĩa là cho cả 2 chân lên ghế !!).


  Tiếng đàn nổi lên cùng giọng sáo của Tô Kiều Ngân thì Vũ Thành An xuất hiện, quỳ gối, đôi tay giang rộng, thành kính kêu mừng : " Ôi tôi không hiểu hạnh phúc này hôm nay vì sao mà tôi có. Đó là nhờ công ơn trời biển của Bác và Đảng, nhờ công ơn của cách mạng mà tôi mới được thành người !" [Ngưng trích]

Vũ Thành An dường như đậu cử nhân Văn Khoa (cũng có người cho biết Vũ Thành An tốt nghiệp QGHC), không rõ ban nào, tuy nhiên sau này được chuyển về Tổng Ủy Dân Vận và đảm trách chức vụ Trưởng Ty Thông Tin Dân Vận tỉnh Gia Định, chắc trình độ lý luận cũng không đến nỗi kém. Vậy xin hỏi mãi đến năm 1980, An mới biết "được thành người" . Thế thì từ lúc được bà mẹ sinh ra năm 1942 đến năm 1972 là lúc làm Trưởng Ty Dân Vận, Vũ Thành An có biết mình là cái gì không ? Hay là tuổi của Vũ Thành An là tuổi con gián, không nằm trong thập nhị chi ?

Hỏi tức là trả lời : trước năm 1980, Vũ Thành An là "côn trùng học làm người", nhờ được giáo dục bởi bọn "sâu bọ lên làm người" nên đêm giao thừa năm 1980 mới thành kính kêu mừng "tôi mới được thành người". Tuy nhiên, phút biến hình đó ngắn quá (có một đêm so với 38 năm tính từ năm 1942 đến năm 1980) nên antenna của cốt côn trùng vẫn còn dính trên đầu của Vũ Thành An.

Trong tác phẩm "Người đàn bà bên kia vĩ tuyến", nhà văn Doãn Quốc Sỹ có viết về một người đàn bà tên Diễm - qua lời phát biểu của trung úy Luận :" Tao thấy elle có tiếng kêu siêu âm của loài cái đang mời gọi loài đực".

Nhưng theo giáo sư Tôn Thất Trình - nhà nông học nổi tiếng của miền Nam, hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông - loài côn trùng khi đến giai đoạn sinh trưởng, giống cái tiết ra mùi quyến dụ giống đực đến để làm công tác truyền giống, chớ côn trùng không phát ra tiếng kêu siêu âm. Giáo sư Tôn Thất Trình gọi mùi quyến dụ của côn trùng giống cái là "nhục tình hương". Và để bắt mùi được "nhục tình hương" của giống cái, những con côn trùng giống đực đã dùng tối đa khả năng cảm nhận của chúng là antenna.

Hai con vật khác nổi tiếng trong lãnh vực khứu giác là con chó và con cá mập : lỗ mũi của chó thật siêu đẳng, nó có thể bắt được mùi của ma túy khi bất cứ chất này được gói dấu kỹ cỡ nào ; con cá mập cũng ghê gớm không vừa gì, chỉ cỡ 1/50 của giọt máu rơi xuống đại dương trong vòng bán kính 3 miles, các con cá mập đã đánh hơi được để lao tới kiếm ăn rồi. Tuy nhiên 2 con vật này không có antenna, do đó những bọn làm antenna như Vũ Thành An, Nguyễn Minh Đăng, Cung Củ Đậu... chỉ đáng ở cấp độ sâu bọ, côn trùng... chứ chưa đủ cấp độ để bước lên hàng thú vật !!

Trong quyển sách Nông Học Đại Cương, chương Bảo Vệ Mùa Màng, tác giả Tôn Thất Trình có đề cập nhiều phương pháp diệt côn trùng, phương pháp nào cũng có mặt yếu mặt mạnh ; phương pháp hóa học thì rất hữu hiệu nhưng lại làm thay đổi sinh thái và ảnh hưởng lưu độc đến sức khỏe của con người, đo đó các nhà nghiên cứu phải thay đổi phương pháp hoặc kết hợp, hoặc luân phiên...

Người ta đã tổng hợp được một số "nhục tình hương" của một số côn trùng, để phết chất "nhục tình hương tổng hợp " này nhằm bắt giết những côn trùng bằng bẫy, ít gây độc hại đối với sức khỏe con người. Tuy nhiên giá cả của "nhục tình hương tổng hợp" còn cao, nên chỉ có nông gia nhà giàu như Hoa Kỳ, Nhật Bản... mới đủ khả năng xài...

Trong kỹ nghệ "trại cải tạo", bọn "sâu bọ lên làm người" là Cộng Sản Việt Nam cũng có "nhục tình hương" là các chức vụ đội trưởng, thi đua, văn-thể-mỹ, học tập cải tạo tiên tiến...đã quyến dụ được những tên "côn trùng học làm người" sử dụng antenna để tấu trình mọi hành động, lời nói và ý nghĩ của các bạn đồng tù cho bọn công an cai tù.

Ngay từ khi nhập trại Long Thành, Vũ Thành An đã tỏ ra một tên "đầu hàng giai cấp", đã đem tâm huyết ca tụng Hồ chí Minh và đảng Cộng Sản. Vũ Thành An có học nên nên trình độ làm antenna cao cấp hơn, khéo léo hơn. Trên chuyến tàu chuyển tù nhân từ Nam ra Bắc, bác sĩ dân biểu Trần Cao Đễ đã mắng Vũ Thành An về cái tội làm tay sai và làm antenna (bác sĩ Trần cao Đễ hiện mở phòng mạch tại ở Orange County).

Ra đến trại Phú Sơn 4 tỉnh Bắc Thái, Vũ Thành An được bọn Việt Cộng cho làm đội trưởng đội cờ đỏ (đội 1). Cựu dân biểu Trương Vị Trí - tốt nghiệp Học viện QGHC, người dân biểu trẻ tuổi nhất của Hạ Nghị Viện VNCH thời bấy giờ, đại diện đơn vị bầu cử số 5 tại Sài Gòn, - ở đội nhà bếp, là người cân đo cơm, khoai, sắn cho các anh em tù bị nghiêm giam. Ông thường cân nhiều hơn tiêu chuẩn bình thường, Vũ Thành An đã báo cáo hành vi của ông cho bọn việt cộng cai tù, cải tạo viên Trương Vị Trí bị bắt quả tang về tội cho tù nghiêm giam hưởng tiêu chuẩn cao hơn người lao động, nên bị thi hành kỷ luật và sau đó bị tống ra khỏi đội nhà bếp. (cựu dân biểu Trương Vị Trí hiện định cư ở tiểu bang Florida).(*)

Cựu thiếu tá Không Quân Nguyễn Văn Cử, nguyên dân biểu đơn vị Nha Trang, người cùng với anh hùng Phạm Phú Quốc năm 1962 đã oanh tạc Dinh Độc Lập của Tổng Thống Ngô Đình Diệm bằng phi cơ Skyraider AD-6, đã bị Vũ Thành An báo cáo thêu dệt và chèn ép đủ điều, vì ngoài chức vụ thiếu tá và dân biểu, Vũ Thành An có biết thiếu tá Cử hoạt động trong VNQDĐ - là đảng khắc kỵ với đảng CSVN. Thiếu tá Nguyễn Văn Cử hiện cư trú tại 4270 Albany Dr # 214 - San Jose - CA 95129, nếu Vũ Thành An cho rằng tôi hiểu sai hành vi của An, xin cứ thư cho thiếu tá Nguyễn Văn Cử ở địa chỉ trên.

Sau một thời gian lập công, bọn Việt Cộng cất nhắc Vũ Thành An lên làm "thi đua". Đây là chức vụ tương đương với Tổng Đội Trưởng. Vũ Thành An đã câu kết và điều khiển một số đội trưởng ác ôn khác thi hành những sáng kiến của y như là thi đua lao động trong ngày nghỉ, thi đua học tập và kiểm điểm thành tích mỗi đêm. Nhóm tay sai dưới trướng Vũ Thành An có thể kể - cựu dân biểu Nguyễn Minh Đăng, cựu bác sĩ dân biểu Nguyễn Văn Ngân, cựu nghị sĩ Khiếu Thiện Kế... (tên Khiếu Thiện Kế tỏ ra xu nịnh một cách hèn hạ, nhưng không làm đội trưởng).

Đại Tá Sơn Thương khi còn là Tiểu Đòan Trưởng Biệt Động Quân đã nổi tiếng ở miền Trung vào năm 1964 tại trận Ba Gia và Thạch Trụ, sau này lên Trung Tá ông về làm Tiểu khu phó tỉnh Vĩnh Bình và chức vụ sau chót khi ông lên Đại Tá là Giám Đốc Nha Miên Vụ. Ở trại Phú Sơn 4, thiếu dinh dưỡng, nên ông thường khai bệnh để nghỉ; khi thiếu tá Đặng Hữu - công an việt cộng làm phân trại trưởng - cho phép mọi người được trích từ tiền lưu ký để mua thêm 1kg sắn (trại tù bán cho người tù tính bằng tiền của tù, chứ không cho không) thì Vũ Thành An và Nguyễn Minh Đăng không cho đại tá Sơn Thương mua vì chúng nói rằng ông không có đi lao động.

Đã thế chúng còn tập họp kiểm điểm hàng đêm đem đại tá Sơn Thương ra đấu tố, nào là ông không có tinh thần giác ngộ, nào là ông có tinh thần chống đối lao động, đi ngược với chính sách khoan hồng của đảng cộng sản, nào là ông nghỉ bệnh nhiều quá nên đội mất điểm tiên tiến, không đạt đuọc danh hiệu "cờ đỏ" khiến ảnh hưởng đến quá trình cải tạo của người khác...v...v. ..

Một phần vì là gốc người Khmer, một phần là chiến sĩ chiến đấu ngoài mặt trận, đại tá Sơn Thương không đủ ngôn từ để đáp lại bọn "mồm loa mép giải" Vũ Thành An và Nguyễn Minh Đăng, cho nên bị quá căng thẳng, ông đã tự vẫn. Còn tên bác sĩ dân biểu Nguyễn Văn Ngân, lúc đầu bọn Việt Cộng cho làm "y vụ", hắn ăn cắp thuốc tiêu chuẩn của trại cấp để chữa trị cho tù nhân, đem mua bán đổi chác hay dâng làm quà cho bọn việt cộng, bị bắt quả tang, bị mất chức "y vụ" nhưng được lên làm đội trưởng (giống Quế tướng công, mất chức tư lệnh sư đoàn 2 vì chặt rừng bán quế cho ngoại quốc cũng như bị tố cáo hiếp dâm, thì lại lên chức Tư Lệnh Quân Đoàn 2, sau chuyển về làm Tư Lệnh Quân Đoàn 3).

Tên đội trưởng Ngân này đã ăn cắp một gói sữa bột của một người trong đội và ăn cắp nhiều món đồ vật khác của anh em. Bị phát hiện, nhưng có sự bao che của Vũ Thành An nên tên Ngân vẫn làm đội trưởng mà không có bị cảnh cáo hay bị khiển trách gì. Trong khi đó, chúng tiếp tục gia tăng sự báo cáo với bọn cai tù : chuyện đói trong trại tù cộng sản là điều hiển nhiên, nên anh em đi lao động thường hay ăn sắn sống (không luộc được), bọn Vũ Thành An cũng báo cáo không sót một ai. Bác Đăng - anh ruột của bộ trưởng Cao Văn Tường - bộ trưởng đặc trách liên lạc quốc hội - nhiễm trùng trong tai, ném bông gòn ra đường cũng bị Khiếu Thiện Kế đấu tố hết mấy đêm.

Khi chuyển trại từ Phú Sơn về trại Thanh Phong tỉnh Thanh Hóa, Vũ Thành An sợ bị anh em đầu độc nên xin với bọn quản giáo việt cộng được ăn riêng : Vũ Thành An tự biết mình là VIP quá quan trọng !!! Tại trại Phú Sơn 4 tỉnh Bắc Thái, "côn trùng học làm người" Vũ Thành An cho biết ý kiến thế nào về cái chết tự vẫn của đại tá Sơn Thương ? Ý kiến thế nào về những nhục hình, những lăng mạ, những trừng phạt... của bọn cai tù đối với một số bạn đồng tù (một số đã chết, một số còn lại ở Việt Nam, một số đã qua Hoa Kỳ diện H.O.). Những đau đớn kéo dài về thể xác và tinh thần của những cải tạo viên không thể hóa giải một cách nhẹ nhàng như lời phát biểu nhẹ như lông vịt của Vũ Thành An ở Nam Cali khi con côn trùng này ra mắt những thính giả yêu những "bài ca không tên" : "Tôi xin lỗi các anh em, trong những lúc yếu lòng..."

Phân tích câu nói của Vũ Thành An, tôi thấy có một số khúc mắc : thứ nhất, lỗi không phải của anh em cho nên Vũ Thành An không thể xin về cho mình được. Cho rằng vì quen miệng nên nói sai, ý của Vũ Thành An là "xin các anh tha lỗi cho tôi", thì các anh em nạn nhân của antenna đã có ai lên tiếng đồng tình tha lỗi cho Vũ Thành An chưa ? (theo học giả Nguyễn Hiến Lê, đồng ý và đồng tình khác nhau : đồng ý là bằng mặt chưa bằng lòng. Còn đồng tình là vừa bằng mặt vừa cả bằng lòng ) . Cho rằng một số anh em ở Hoa Kỳ đồng ý tha lỗi cho Vũ Thành An đi nữa, thì còn lại số khuất mặt (bao gồm người chết, người còn ở Việt Nam, những người ở các quốc gia khác ) tính làm sao ?

Điểm thứ hai, Vũ Thành An nói :"...trong những lúc yếu lòng " là Vũ Thành An không thành thật. Trong luật pháp, một hành vi phạm tội được lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài và lặp đi lặp lại một cách có hệ thống, có bài bản thì bị kết án với trường hợp gia trọng là có cố ý . Nếu chấp nhận lời nói của Vũ Thành An thì hóa ra từ khi "đi cải tạo" tháng 6- 1975 đến tháng 6-1987, Vũ Thành An yếu lòng đến 12 năm !!! Thế lúc nào là lúc vững lòng ? Có phải Vũ Thành An vững lòng khi "được trở lại đạo" và được sự che chở của các vị linh mục ?

Vũ Thành An đã tự sát sinh mệnh lịch sử của mình khi cam tâm đem thân làm tay sai cho lũ "sâu bọ lên làm người". Các vị linh mục lúc nào cũng rộng lượng, bác ái, bao dung...mở rộng vòng tay đón nhận mọi con cái của Chúa.. Công trạng hay tội lỗi chỉ được minh xử bởi Chúa Trời vào Ngày Phán Xét Cuối Cùng. Chúng tôi - những cựu tù nhân chính trị- một số là giáo dân, một số là tín đồ các tôn giáo khác, lên tiếng với linh mục Nguyễn Huy Tưởng, chính xứ nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Garland -Texas, nhân dịp ngày 11- 11 sắp tới đây- kỷ niệm Lễ Ngân Khánh của ngài, Vũ Thành An sẽ trình diễn văn nghệ. Vì luật pháp Hoa Kỳ, vì tình Bác Ái của Ki Tô, vì chúng tôi không muốn trồng "nhân" xấu cho "nghiệp" của mình... chúng tôi tạm "forget" những hành vi của Vũ Thành An trong quá khứ, nhưng chúng tôi không bao giờ "forgive" cho động cơ thúc đấy Vũ Thành An gây nên tội phạm ấy.

Những tên tội phạm khác - tội lừa thầy phản bạn, một số chịu ở lại Việt Nam, một số khác qua Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Canada... đều im hơi lặng tiếng để sống hết kiếp, để dành thời gian còn lại trong quãng đời ăn năn hối hận. Chúng tôi cũng chấp nhận "forget " họ. Nhưng một số linh mục có thể không phân biệt sinh mệnh nhục thể với sinh mệnh lịch sử nên đã cho phép Vũ Thành An dùng tài năng âm nhạc để xuất đầu lộ diện trở lại, nhằm làm hồi sinh "sinh mệnh lịch sử đã chết của Vũ Thành An". Xin các linh mục hãy suy nghĩ cho kỹ về ý kiến của chúng tôi. Tôi tin rằng quý vị linh mục chỉ muốn bao dung chấp nhận sinh mệnh nhục thể chủa Vũ Thành An, chứ quý vị không muốn phục sinh "sinh mệnh lịch sử đã chết của Vũ Thành An".

Nữ ca sĩ Thanh Lan khi mới đến Hoa Kỳ, hớ hênh tuyên bố có lợi cho cộng sản, bị Ủy Ban Chính Nghĩa Quốc Gia và các cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi trên đất nước Hoa Kỳ phản đối. Sau đó, Thanh Lan xin tỵ nạn và được cộng đồng chấp nhận vì từ 30-4-1975 trở về sau, cô không có làm antenna cho bọn Việt Cộng. Trong khi đó, Vũ Thành An là một tên phản bội, tay sai rõ ràng của cộng sản Việt Nam - sắp sửa đến trình diễn tại vùng Dallas - Texas thì lại không thấy Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam hải ngoại lên tiếng gì cả.

Các ông các bà trong Ban Đại Diện đang bận ngủ hay đang bận đấu đá nhau nên quên "dịch côn trùng Vũ Thành An" sắp kéo đến vùng Dallas hay sao ? Xin quý vị thức tỉnh để làm việc chung cho đồng bào ?

Sunday, August 8, 2010

Thiếu Tá Huỳnh Thuận Nhả / LLĐB / Nha Kỹ Thuật / Sở Bắc


Rat han hanh duoc biet anh, nay ve lai San Jose nen goi cho anh vai chi tiet ve nguoi cau Huynh Thuan Nha.
Neu em nho khong lam thi cau ra truong Thu Duc nam 1958 va ve LD 77 , sau do lam toan truong toan 2 Loi Vu theo nhu loi ong Phan Ba Ky viet trong sach ve LLDB,
Sau do cau qua LLDB va ve Khong Quan khoang nam 69 ~ 70 va mat tich tren duong rut lui khoi Pleiku nam 1975.
Em co dua tat ca chi tiet cho hoi LLDB de ho de hinh cau len trang Tuong Niem nhung khong ket qua, nho anh giup dum.
Hom nay co noi phone voi thang ban, no cung biet anh vi ba no Trung Ta Nguyen (em khong nho chu lot) Hy, chi huy truong hay gi do cua Nha Ky Thuat chac anh nho, em no la Hoang o ben New Orleans cung thuong lien lac voi anh, phai khong ?

Saturday, August 7, 2010

Tống Văn Vị Pháp Danh Phổ Siêu nguyên quán Nam Định từng phục vụ tại Sở Bắc Nha Kỹ Thuật.


Xin Thông Báo cùng qúy NT và Qúy Chiến Hữu
Thượng Sỉ Tống Văn Vị Pháp Danh Phổ Siêu nguyên quán Nam Định từng phục vụ tại Sở Bắc Nha Kỹ Thuật.
Mất ngày 6 tháng 8 năm 2010 tại Santa Ana, Tiểu Bang California Hoa Kỳ
 Hưởng thọ 86 tuổi. trong lúc lâm trọng bệnh, và trước giờ hấp hối có chuyển đạt nguyện ước đến các con cháu và gia đình , muốn được phủ lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa.


Hội Ái Hữu Nha Kỹ Thuật California sẻ đãm trách việc Phủ Quốc Kỳ VNCH 
Xin L/L với C/H Đoàn Mạnh hoạc C/H Lê. T Anh để biết ngày giờ và chương trình.


Trân Trọng 
Phạm Hòa

Yễm Trợ Thương Phế Binh NKT Huỳnh Hoa va Thư Cám Ơn